Cơ sở khoa học

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ OXY CAO ÁP

Bs Nguyễn Kim Phong

Oxy cao áp có thể nói ngắn gọn là phương pháp dùng oxy tinh khiết ( hay hàm lượng cao ) ở áp lực cao để điều trị , điều dưỡng bệnh . Đây là phương pháp hiếm hoi dùng chất khí để chữa bệnh .
Trong y học có những phương pháp xây dựng được cơ sở khoa học , cơ chế tác dụng đối với toàn cơ thể người bệnh hay đối với những bệnh cụ thể . Nhưng nhiều khi phương pháp ,bài thuốc được công nhận từ thực tế, từ kinh nghiêm có tính gia truyền , cổ truyền … Oxy cao áp là phương pháp được nghiên cứu công phu , chi tiết không chỉ về sinh học ,y học mà cả về lý hóa học trong thời gian dài từ đầu thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 mới đưa vào áp dụng . Có thể nói điều trị oxy cao áp đã được hoàn thiện về cơ sở lý thuyết cũng như kỹ thuật . Phương pháp có nhiều ưu việt ; ngày nay được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế , y học phát triển.

co-so-khoa-hoc

Cơ sở khoa học của phương pháp điều trị oxy cao áp
Xuất phát từ nhận định oxy rất quan trọng với sự sống , với sức khỏe . Oxy tuy sẵn có trong tự nhiên nhưng hiện tượng thiếu oxy toàn bộ hay môt phần cơ thể vẫn thường gặp . Đó là nguyên nhân tiên phát . thứ phát của nhiều bệnh .Bệnh do thiếu oxy thì cách chữa hữu hiệu , thích hợp là cung cấp đủ , kịp thời oxy cho cơ thể . Phương pháp điều trị oxy cao áp hình thành nhằm tạo điều kiện đưa nhanh oxy vào cơ thể dựa trên cơ sở sinh học và vật lý học.

Vận chuyển oxy của cơ thể trong điều kiện áp suất bình thường
Bình thường, hoạt động cung cấp oxy cho mô chia làm 3 giai đọan chính: Nhận oxy tại phổi, chuyển oxy tới mô, giao oxy cho mô, cho tế bào.
Chuyên chở oxy từ phổi tới mô do hệ tuần hoàn đảm nhiệm. Oxy trong máu tồn tại dưới hai dạng : hòa tan và kết hợp . Dạng oxy kết hợp với hemoglobin (Hb) là chủ yếu, có khoảng 20 ml O2/100ml máu, chiếm 97% và dạng hòa tan chỉ một phần rất ít 0,3 ml 02/100ml máu , chiếm 3% dung lượng oxy của máu.

Dạng kết hợp : Với người khỏe mạnh trong điều kiện áp suất bình thường oxy hemoglobin trong máu đảm bảo về cơ bản lượng oxy cần thiết cho hoạt động của cơ thể . Song khi lượng Hb trong máu giảm hoặc bị phong tỏa do một số nguyên nhân nào đó như: thiếu máu, giảm cung lượng tim , bệnh Hb hoặc các nguyên nhân khác làm giảm ái lực của Hb với oxy như nhiệt độ cao, pH máu giảm … Lúc đó lượng oxy được vận chuyển đến tế bào giảm, không đáp ứng được nhu cầu của các quá trình chuyển hóa, cho dù bệnh nhân đã được hô hấp bằng oxy nguyên chất.

Dạng hòa tan : Về vật lý nội môi của cơ thể người coi như môi trường nước . Oxy là chất khí có thể hòa tan vào máu theo quy luật vật lý bình thường . Oxy hòa tan tuy chỉ chiếm lượng ít trong điều kiện áp suất khí quyển , nhưng có ý nghĩa quan trọng . Đây là dạng sử dụng của tế bào . Oxy dạng kết hợp gắn với Hb tới tế bào phải trở về dạng hòa tan trước khi được sử dụng . Lượng oxy hòa tan tăng giảm theo phân áp oxy trong khí phế nang và có thể điều chỉnh theo ý muốn nhanh chóng bằng cách tăng giảm áp suất và hàm lượng oxy trong khí hít vào . Y học hiện đại dựa trên ưu thế này , xây dựng nên phương pháp điều trị oxy cao áp có nhiều ưu việt trong điều trị điều dưỡng bệnh .

Vận chuyển oxy của cơ thể trong điều kiện áp suất cao – Oxy cao áp
Khi điều trị oxy cao áp bệnh nhân được hít thở oxy nguyên chất ở áp lực cao , làm tăng nhanh lượng oxy trong máu tới mô một cách chủ động , nhanh chóng ; không bị phụ thuộc vào hemoglobin . Trong áp suất cao, lượng oxy hòa tan trong huyết tương tăng lên phụ thuộc vào mức độ tăng áp lực riêng phần oxy trong khí hít vào . Từ đó tăng dung tích oxy của các môi trường lỏng trong cơ thể (máu, chất lỏng mô chiếm 70% trọng lượng cơ thể) cho phép tăng nhanh hàm lượng oxy trong những tế bào .

Áp suất của oxy trong tế máu phụ thuộc vào phân áp oxy PO2 của máu động mạch và PO2 phế nang. Trong điều kiện bình thường, hai đại lượng này không chỉ liên quan chặt chẽ với nhau mà còn rất gần nhau . Ở điều kiện oxy cao áp, mức chênh lệch chỉ số này trở nên đáng kể. Áp suất của không khí trong phế nang là tổng các phân áp của các chất khí riêng biệt (O2, CO2, N2…) . Khi tăng áp suất của môi trường bên ngoài, phân áp của các khí trong phổi tăng theo tỷ lệ với sự tăng của áp suất chung và phần trăm khí đó trong hỗn hợp khí hít vào.

Nếu thở bằng oxy tinh khiết, nitơ phế nang được thay thế bằng oxy . Khi tăng áp suất của oxy thở vào đến 2,3,4 at dẫn đến tăng tương ứng PO2 phế nang lên 14,22,30 lần so với hô hấp bằng không khí dưới áp suất khí quyển. Tăng PO2 phổi dẫn đến tăng phân áp oxy giữa phế nang và mao mạch phổi.

Trong điều kiện OXCA , bão hòa oxy máu kết thúc rất sớm trước khi máu đi đến cuối mao mạch phổi. Với PO2 cao trong máu động mạch thì nhu cầu oxy của các mô có thể hoàn toàn được thỏa mãn nhờ oxy hòa tan.

Cứ tăng áp suất của oxy thở vào lên 1 at trong điều kiện nhiệt độ không đổi thì lượng oxy hòa tan bổ sung khoảng 2,3 ml trong 100ml máu. Hô hấp bằng oxy tinh khiết ở áp suất 4 at sẽ dẫn đến tăng độ hòa tan oxy trong máu khoảng 6,65% (6,65ml), gấp 22 lần so với hô hấp dưới áp suất khí quyển . Lúc này lượng oxy hòa tan chính bằng lượng oxy chênh lệch giữa máu động mạch và tĩnh mạch, nghĩa là bằng lượng oxy cần thiết cho chuyển hóa tế bào. Như vậy, dưới áp lực 3 at, OXCA sẽ tạo ra một nguồn cung cấp oxy mới cho tế bào đủ để đảm bảo mọi hoạt động sống của cơ thể, có thể thay thế chức năng Hb của hồng cầu. Bằng thực nghiệm người ta đã chứng minh cơ thể vẫn hoạt động bình thường khi ta thay máu bằng dung dịch dextran hay ringer nếu cơ thể ở trong môi trường oxy tinh khiết dưới áp lực 3 at. Đó là cơ sở sinh lý để sử dụng OXCA trong điều trị các bệnh do thiếu oxy, đảm bảo sự sống trong các trạng thái mà Hb hoàn toàn hay một phần bị loại trừ khỏi quá trình hô hấp ( thiếu máu, ngộ độc…)

Khi làm tăng dung tích oxy của các môi trường lỏng trong cơ thể, OXCA tạo ra khả năng dự trữ một lượng oxy trong mô và kéo dài thời gian sống cho cơ thể trong trường hợp loại trừ hoàn toàn tuần hoàn (áp dụng OXCA trong phẫu thuật tim).
Tóm lại, phương pháp OXCA có rất nhiều ưu thế hơn so với sử dụng oxy ở áp suất bình thường, cụ thể:

Bù trừ dần bất kỳ dạng thiếu oxy nào và trước hết thiếu oxy mô do rối loạn, thiểu năng hô hấp : giảm bề mặt thông khí phổi, rối loạn tuần hoàn phổi, tăng bề dày phế nang mao mạch.
Làm tăng dung tích oxy máu ngay cả khi chất vận chuyển oxy hemoglobin giảm thiểu về lượng cũng như về chất , khi máu động mạch bị pha tạp máu tĩnh mạch
Kéo dài khoảng cách khuếch tán có hiệu quả của O2 vào các mô.
Đảm bảo nhu cầu oxy cho chuyển hóa của mô khi tốc độ dòng máu bị giảm.
– Oxy cao áp làm tăng oxy hòa tan là tạo thành lợi ích kép : tăng về lượng và tạo điều kiện cơ thể sử dụng dễ dàng hơn , giúp giải quyết nhanh tình trạng thiếu oxy của cơ thể trong mọi tình huống.
– Mặc khác ở áp suất cao, oxy ngoài các tác dụng ưu thế như trên còn có tính chất dược lý như một lọai thuốc: kích thích tăng khả năng miễn dịch, điều hòa vận mạch, chống nhiễm trùng nhất là vi khuẩn kỵ khí , có tác dụng cầm máu …
Oxy tự nhiên vốn đã là người bạn đồng hành rất đáng quý , đáng trân trọng luôn luôn hỗ trợ một cách vô tư , kịp thời của sức khỏe . Y học hiện đại với phương pháp điều trị oxy cao áp đã nâng cao thêm giá trị , lợi ích của oxy . Oxy không còn chỉ là chất tạo và duy trì sự sống , là chất dinh dưỡng không thể thiếu giúp nâng cao sức khỏe mà còn thực sự trở thành một loại thuốc có hiệu quả cao trong điều trị điều dưỡng nhiều bệnh .

Bài sau : Những ưu việt của phương pháp Điều trị oxy cao áp

Share This Post

Post Comment