Người bệnh viêm gan nên ăn gì để bảo vệ gan

Nên lựa chọn chế độ ăn giúp nương nhẹ chức năng gan, tạo điều kiện để tái tạo, ngăn ngừa sự hủy hoại thêm tế bào gan.

Viêm gan là tình trạng tổn thương tế bào gan, thường có rối loạn tiêu hóa, sốt, nôn mửa, biếng ăn, đại tiện phân lỏng. Nguyên nhân hay gặp nhất là do virus, ngoài ra có thể do rượu, một số thuốc hoặc hóa chất. Viêm gan có thể kèm theo vàng da hoặc không vàng da và thường kèm theo các rối loạn khác của bộ máy tiêu hóa.

Thời kỳ viêm gan cấp tính

Giai đoạn đầu:

Bệnh nhân có thể sốt, nôn mửa, đau nhức hoặc biếng ăn. Gan vẫn phải làm việc khi tế bào gan bị tổn thương do đó phải áp dụng chế độ nương nhẹ gan và nương nhẹ dạ dày, ruột.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn:

– Năng lượng: 25 kcal/kg cân nặng một ngày. Chủ yếu cung cấp năng lượng bằng đường đơn: (truyền glucose, acid amin, uống nước đường, nước hoa quả, sữa tươi, nước cơm, nước cháo…).

Khi sốt đã giảm, lượng nước tiểu tăng lên, áp dụng chế độ ăn sữa với khoảng 1000 calo (1.000-1.500 ml sữa) mỗi ngày. Sữa là một loại thức ăn tốt vì không có nhiều cặn bã, không độc mà còn có khả năng chống độc, lợi tiểu. Có thể dùng sữa tách bơ hoặc sữa đã rút kem pha thêm đường hoặc dùng các sản phẩm dinh dưỡng.

– Protid: 0,4-0,6g/kg cân nặng một ngày, dùng protid có giá trị sinh học cao.

– Lipid: 10-15% tổng năng lượng.

– Đủ vitamin và chất khoáng theo nhu cầu.

– Số bữa ăn: 6-8 bữa một ngày.

Cơ cấu khẩu phần một ngày nên như sau:

– Năng lượng E (kcal): 1.300-1.400.

– Protid (g): 20-30.

– Lipid (g): 15-20.

– Glucid (g): 250-280.

– Nước (lít): 2-2,5.

Giai đoạn tiếp theo:

Cuối giai đoạn cấp tính có thể cho bệnh nhân ăn thêm ngũ cốc dưới dạng bột, cháo. Khi đã hết sốt, áp dụng chế độ ăn có nhiều protid và nhiều methionin như sữa tách bơ, thịt nạc, cá nạc cùng với tăng cường calo, tăng cường chất bột.

Nguyên tắc:

– Năng lượng: 30 kcal/kg cân nặng hiện tại một ngày.

– Protid: 0,8-1 kg/cân nặng một ngày. Tỷ lệ protid động vật chiếm hơn 50%.

– Lipid: 10-15% tổng năng lượng.

– Đủ vitamin, chất khoáng và nước.

– Không dùng thực phẩm lạ, dễ gây dị ứng.

– Số bữa ăn: 4-6 bữa một ngày.

Cơ cấu khẩu phần một ngày nên như sau:

– Năng lượng (kcal): 1.500-1.700.

– Protid (g): 40-55.

– Lipid (g): 17-28.

– Glucid (g): 280-330.

– Nước (lít): 2-2,5.

xay dung che do an cho nguoi benh viem gan
Xây dựng chế độ ăn cho người bệnh viêm gan

Chế độ ăn trong thời kỳ viêm gan mạn tính

Khi giai đoạn cấp tính đã qua, bệnh nhân ở vào tình trạng “yếu gan”, thời kỳ này có khi kéo dài rất lâu. Bệnh nhân không chịu được những bữa ăn có quá nhiều chất béo, nhiều loại thực phẩm, hoặc những thay đổi đột ngột về môi trường, khí hậu.

Chế độ ăn cần chú ý đến những điểm sau:

– Thức ăn phải tươi, tránh để lâu, không nên nấu nướng cầu kỳ.

– Không dùng những thực phẩm lạ dễ gây dị ứng.

– Nên ăn nhiều bữa để hấp thu tốt hơn, chú ý dùng chế độ ăn nương nhẹ cả gan lẫn dạ dày và ruột.

– Ăn nhiều thịt nạc nhưng tránh ăn thịt súc vật non vì có chứa nhiều nucleoprotid.

– Nên ăn nhiều sữa, trứng ăn vừa phải và chỉ nên dùng trứng tươi.

– Các chất béo chỉ nên dùng ít và dùng dạng dầu thực vật, tránh dùng mỡ động vật.

– Tăng cường chất đường, mật, bột ngũ cốc.

– Rau quả loại tươi, mềm, ít xơ, nhiều ngọt.

– Không dùng gia vị, rượu, bia, chất kích thích…

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn:

– Năng lượng: 35 kcal/kg cân nặng một ngày.

– Protid: 1-1,5 g/kg cân nặng một ngày.

– Lipid: 15-20% tổng năng lượng.

– Đủ vitamin (đặc biệt là vitamin nhóm B, K) và muối khoáng.

– Nước: 1,5-2 lít mỗi ngày.

– Số bữa ăn: 3-4 bữa một ngày.

Cơ cấu khẩu phần một ngày nên như sau:

– Năng lượng (kcal): 1.800-1.900.

– Protid (g): 50-75.

– Lipid (g): 30-40.

– Glucid (g): 310-340.

– Nước (lít): 1,5-2.

Một số thực đơn tham khảo

Mẫu 1: 1.500 kcal một ngày, protid: 59 g, lipid: 22 g, Glucid: 262 g.

– Sáng: bún thịt bò (bún 200 g, thịt bò 30 g), quả chín: 100 g.

– Trưa: cơm 2 lưng bát (100 g gạo), thịt nạc viên hấp 60 g, canh bí 200 g, nước cam 200 ml.

– Chiều: cơm 2 lưng bát (100 g gạo), thịt bò xào rau cải (thịt bò 40 g, rau cải 200 g, dầu ăn 5 ml), đu đủ 100 g.

– Tối: Sữa tươi 200 ml.

Mẫu 2: Năng lượng 1.770 kcal, protid: 82 g, lipid: 31 g, glucid: 288 g.

– Sáng: Cháo thịt (gạo tẻ 30 g, thịt nạc 30 g), quả chín 100 g.

– Trưa: Cơm 2 bát, thịt bò xào thập cẩm (thịt bò 50 g, hành tây 20 g, mộc nhĩ 5 g, tỏi tây – cà rốt 30 g, đậu cô ve 20 g), canh cải 1 bát.

– Chiều: Cơm 2 bát, đậu sốt cà chua (đậu phụ 100 g, cà chua 50 g), tôm rang 50 g, canh rau 200 g, quả chín 100 g.

– Tối: Sữa 200 ml.

Mẫu 3: Năng lượng 2.100 kcal, protid: 86 g, lipid: 44 g, glucid: 347 g.

– 7h sáng: Bánh mì trứng (bánh mì 1 cái, trứng gà 1 quả, dầu ăn 5 ml), quả chín 100 g.

– 9h: Một cốc chè đỗ đen (đỗ đen 20 g, đường kính 20 g, bột đao 5 g).

– 11h: Cơm 2 bát, thịt rim 50 g, canh bí xanh tôm nõn (bí xanh 200 g, tôm nõn 10 g, dầu ăn 3 ml), quả chín 200 g.

– 15h: Một hộp sữa nước 200 ml.

– 17h: Cơm 2 bát, thịt gà rang 80 g, rau muống luộc 200 g, quả chín 200 g.

Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm
Nguyên Phó Viện trưởng Dinh dưỡng

Share This Post

Post Comment