Previous
Next

CHUYÊN MỤC

TIN TỨC Y KHOA MỚI NHẤT

Loại bỏ nguy cơ mất tử cung

TT – Bị u xơ tử cung gây chảy máu nhiều ngày, cơ thể suy kiệt, rồi biến chứng chảy máu ồ ạt sau sinh… đều là lý do nghiêm trọng khiến phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ cắt bỏ tử cung.

Song nhờ phương pháp can thiệp mạch đang được ứng dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, nhiều người đã loại bỏ được nguy cơ ám ảnh này.

Bảo tồn thiên chức làm mẹ

T.L.A. (22 tuổi, ở Ba Đình, Hà Nội) bị u xơ tử cung gây rong kinh kéo dài, thiếu máu trầm trọng suốt ba năm qua. Nhiều chuyên gia sản khoa mà gia đình tìm đến đều tránh phương án cắt bỏ tử cung, cố gắng điều trị bằng thuốc vì A. còn quá trẻ, lại chưa lập gia đình. Song hành trình điều trị nội khoa dù kéo dài nhưng cô vẫn rơi vào trạng thái “kỳ kinh dài bất tận”, một tháng 30 ngày thì liên tục 20 ngày chảy máu, đau bụng kinh.

Đầu năm 2011, gia đình tạo điều kiện cho A. sang Singapore chữa trị, nhưng sau đợt tiêm thuốc gây vô kinh một thời gian, tình trạng bệnh vẫn không cải thiện. Đến lúc này các bác sĩ nhất mực yêu cầu A. cắt bỏ tử cung để bảo đảm sức khỏe khi tình trạng thiếu máu đã ở mức trầm trọng. “Nghĩ đến chuyện không còn tử cung, không thể sinh đẻ bình thường, có lúc tôi không thiết sống”, A. tâm sự. May mắn, cuối cùng A. không phải cắt bỏ tử cung khi được điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vào đầu tháng 6 vừa qua.

TS Đặng Vĩnh Dũng – khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 – cho hay phương án điều trị này chỉ định riêng cho nhóm bệnh nhân u xơ có tăng sinh mạch máu, nghĩa là quanh khối u có nhiều mạch máu nuôi dưỡng nó. Trường hợp của A. nếu cắt bỏ tử cung vẫn có thể có con nhưng phải tìm đến sự trợ giúp của phương pháp thụ tinh ống nghiệm và chắc chắn phải nhờ người mang thai hộ.

Thực tế u xơ tử cung là u lành tính, phần lớn trường hợp không có triệu chứng, không ảnh hưởng đến sức khỏe và không cần điều trị. Khoảng 30% phụ nữ ở độ tuổi 30-50 mắc bệnh này, 2/3 trong số đó không có triệu chứng, chỉ phát hiện tình cờ khi siêu âm, còn 1/3 có các triệu chứng rối loạn kinh nguyệt (rong kinh, cường kinh, thống kinh, có máu cục), đau tức hố chậu, tiểu rắt, táo bón, tự sờ thấy u ở hố chậu, sẩy thai.

TS Lê Văn Trường – chủ nhiệm khoa chẩn đoán và can thiệp tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 – cho hay tại bệnh viện, trong số bệnh nhân phải đến khám vì sự làm phiền của bệnh lý này có đến 85-90% trường hợp khối u liên quan đến tăng sinh mạch máu, có thể điều trị bằng phương pháp can thiệp mạch. Đây là phương pháp điều trị bệnh không phẫu thuật, sử dụng ống thông đi trong lòng mạch, qua đó bơm các hạt làm tắc hai động mạch tử cung. Khối u sẽ bị hoại tử vô trùng và teo nhỏ dần vì thiếu máu, trở thành sẹo nhỏ trên thành tử cung.

Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đang có thai thì nhất định không được điều trị bệnh, gây ảnh hưởng đến thai nhi.

Áp dụng cho cấp cứu sản phụ chảy máu sau sinh

TS Đặng Vĩnh Dũng cho hay bắt đầu từ tháng 6, bệnh viện sẽ mở rộng áp dụng phương pháp can thiệp nội mạch để điều trị cho những sản phụ bị chảy máu sau sinh. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chảy máu sau sinh là lượng máu mất hơn 500ml sau sinh thường hoặc hơn 1.000ml sau mổ sinh. Chảy máu sau sinh có thể xảy ra sớm trong vòng 24 giờ đầu hoặc muộn từ sau 24 giờ đến sáu tuần sau sinh. Đây là dạng biến chứng nặng, không được cấp cứu kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong. Khi chưa có phương pháp can thiệp nội mạch, các bác sĩ sản khoa dùng thuốc, truyền máu, trường hợp bệnh nhân không cầm máu được thì chắc chắn phải cắt bỏ tử cung. Song với nguyên lý của can thiệp nội mạch, chỉ sau 30 phút bệnh nhân sẽ cầm máu ngay mà tử cung vẫn còn nguyên.

Nguyên nhân chính gây tình trạng này là do đờ tử cung (do sót nhau, đa thai, nhiễm trùng ối, chuyển dạ kéo dài, mẹ bị đái tháo đường), rách âm đạo và tầng sinh môn, sản phụ có rối loạn đông máu, nhau tiền đạo, nhau cài răng lược… Do đó, với những thai phụ có những dấu hiệu nguy cơ có thể gây đờ tử cung như đa thai, đa ối, thai to… cần lựa chọn nơi sinh kỹ lưỡng, có khả năng thực hiện can thiệp nội mạch trong trường hợp chảy máu cấp cứu sau khi sinh.

Sau khi ra viện bệnh nhân lưu ý: 1. Đi lại nhẹ nhàng trong một tuần đầu; 2. Ăn uống bình thường, kiêng các chất kích thích; 3. Dùng thuốc giảm đau nếu cần; 4. Không ngâm mình trong bồn tắm hai tuần đầu; 5. Kiêng sinh hoạt vợ chồng trong tháng đầu; 6. Đến khám định kỳ theo hẹn của bác sĩ: ba, sáu, và 12 tháng sau điều trị.

Nếu có triệu chứng nhiễm trùng nội mạc tử cung: sốt, mệt mỏi, ra dịch âm đạo nhiều và hôi… cần đến bệnh viện ngay để điều trị chống nhiễm khuẩn tích cực. Trường hợp cần có thai sau điều trị sẽ phải khám và kiểm tra siêu âm màu chặt chẽ hơn; chỉ nên có thai sau điều trị từ 9-12 tháng.

TS Lê Văn Trường

NGỌC HÀ

Facebook
Twitter

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

THÔNG TIN MỘT SỐ BỆNH NHÂN ĐÃ VÀ ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM